• 0935 864 357
  • LawyerPhanvn@gmail.com
  • All law you need is our mission

Tóm tắt Nghị định 78/2015 về Đăng ký doanh nghiệp

indeedLaw.org - Ngày 14/9/2015, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về Đăng ký doanh nghiệp (Nghị định 78/2015). Nghị định 78/2015 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/11/2015 và thay thế Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp và Nghị định số 5/2013/NĐ-CP ngày 9/1/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về thủ tục hành chính của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP.

>> Nghị định 78/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Doanh nghiệp 2014 về Đăng ký doanh nghiệp
>> Luật Doanh nghiệp 2014 
>> Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn

Sau đây, indeedLaw.org xin giới thiệu đến các bản một số nội dung chính cơ bản của Nghị định 78/2015 như sau:
Đăng ký doanh nghiệp là giai đoạn chính thức bước vào thế giới kinh doanh
1. Đăng ký doanh nghiệp
Theo định nghĩa của Nghị định 78/2015 thì Đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của Nghị định này.
2. Thời hạn đăng ký doanh nghiệp
Thời hạn đăng ký doanh nghiệp là: 03 (ba) ngày làm việc, cụ thể là phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.
3. Ngành, nghề kinh doanh:
- Khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, khi thông báo bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh hoặc khi đề nghị cấp đổi sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp lựa chọn ngành kinh tế cấp bốn (hoặc có thể ghi chi tiết hơn) trong Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam để ghi ngành, nghề kinh doanh trong Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp, Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy đề nghị cấp đổi sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Cơ quan đăng ký kinh doanh hướng dẫn, đối chiếu và ghi nhận ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Và trong Giấy đăng ký doanh nghiệp không còn nội dung ngành nghề đăng ký kinh doanh nữa mà Cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ cấp một tờ văn bản xác nhận ngành nghề riêng của Doanh nghiệp và cấp cho doanh nghiệp.
- Đối với những ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì ngành, nghề kinh doanh được ghi theo ngành, nghề quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đó.
- Đối với những ngành, nghề kinh doanh không có trong Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam nhưng được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì ngành, nghề kinh doanh được ghi theo ngành, nghề quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đó.
- Đối với những ngành, nghề kinh doanh không có trong Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam và chưa được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét ghi nhận ngành, nghề kinh doanh này vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp nếu không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, đồng thời thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) để bổ sung ngành, nghề kinh doanh mới.
4. Quy định về đặt tên doanh nghiệp
Nghị định cũng quy định khá rõ các trường hợp về tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn là như thế nào (Điều 17), đồng thời trước khi đăng ký tên doanh nghiệp, doanh nghiệp tham khảo tên các doanh nghiệp đã đăng ký trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp hoạt động theo Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) được tiếp tục sử dụng tên doanh nghiệp đã đăng ký và không bắt buộc phải đăng ký đổi tên.
Nghị định cũng khẳng định lại cấm không được sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý của tổ chức, cá nhân đã được bảo hộ để cấu thành tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp được sự chấp thuận của chủ sở hữu tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đó. Trước khi đăng ký đặt tên doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có thể tham khảo các nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đã đăng ký và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý của cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp. Song để có cơ chế giải quyết cụ thể thị Nghị định cũng giao nhiệm vụ cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn chi tiết Điều này.
5. Quy định về con dấu
Nghị định khẳng đinh lại việc Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, nội dung và số lượng con dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện. Doanh nghiệp có thể có nhiều con dấu với hình thức và nội dung như nhau.
Trước khi sử dụng, thay đổi, hủy mẫu con dấu, thay đổi số lượng con dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, doanh nghiệp gửi thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện đặt trụ sở để đăng tải thông báo về mẫu con dấu trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Nội dung thông báo bao gồm:
- Tên, mã số, địa chỉ trụ sở của doanh nghiệp hoặc chi nhánh hoặc văn phòng đại diện;
- Số lượng con dấu, mẫu con dấu, thời điểm có hiệu lực của mẫu con dấu.

Trên đây là bản tóm tắc những nội dung cơ bản của Nghị định 78/2015, indeedLaw.org xin mời các bạn đọc Nghị định 78/2015 ở link bên trên để hiểu và nắm rõ các quy định của pháp luật.
                                                                                                                                                    

Bản quyền bài viết của indeedLaw.org
Share on Google Plus

indeedLaw.org

"Cung cấp đầy đủ và chi tiết những kiến thức pháp luật cho mọi người!"

Comment!

0 nhận xét:

Post a Comment