• 0935 864 357
  • LawyerPhanvn@gmail.com
  • All law you need is our mission

Sở hữu chéo là gì

indeedLaw.org - Sở hữu chéo là một vấn đề gây nhiều tranh cãi giữa các nhà làm luật, những doanh nghiệp cũng như những người nghiên cứu về nội dung. Luật doanh nghiệp 2005 không có những quy định rõ ràng quy định về sở hữu chéo nên các nhà làm luật đã cập nhật quy định về sở hữu chéo vào nội dung Luật doanh nghiệp 2014 và Nghị định 96/2015 hướng dẫn Luật doanh nghiệp 2014.
Càng ngày các doanh nhân càng phải nắm rõ các quy định của pháp luật
Hiện tại pháp luật Việt Nam (Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành) chỉ cấm việc các bên sở hữu chéo trực tiếp, còn việc sở hữu chéo gián tiếp thì pháp luật không có quy định. Mà không có quy định thì theo tinh thần của pháp luật là doanh nghiệp được tự do thực hiện những gì mà pháp luật không cấm thì việc sở hữu chéo gián tiếp là không bị cấm.

Ví dụ về sở hữu chéo trực tiếp (pháp luật cấm)

Ví dụ 1: A là công ty mẹ của công ty B. Như vậy B sẽ không được tham gia góp vốn, mua cổ phần của công ty A.

Ví dụ 2: A là công ty mẹ của các công ty B, công ty C. Như vậy B và C sẽ không được đồng thời góp vốn mua cổ phần của nhau.
Nhưng B có thể mua phần vốn góp, cổ phần của C nếu C không mua phần vốn góp, cổ phần của B (một công ty con (B) của A mua phần vốn góp/ cổ phần của một/ một số công con của A trong trường hợp các công ty con đó không mua phần vốn góp/ cổ phần của B thì pháp luật không cấm).

Ví dụ về sở hữu chéo gián tiếp (pháp luật không cấm)

A là công ty mẹ của công ty B và C.

Ví dụ 1: B (hoặc C) lập ra một công ty con là B1. B1 không bị cấm mua phần vốn góp, cổ phần của A, vì B1 không phải là công ty con của A.

Ví dụ 2: B mua phần vốn góp/ cổ phần của C, C lập ra công ty con C1 mua cổ phần của B.

Việc sở hữu chéo và sở hữu, chi phối một/ một nhóm công ty trên thực tế diễn ra rất phức tạp vì để hình thành nên ma trận sỡ hữu chéo, sở hữu chi phối thì các doanh nghiệp, nhà đầu tư thường suy nghĩ "nát óc" để lập nên một chiến lược an toàn và ít rủi ro nhất để điều hành một "hệ sinh thái" kinh doanh của họ. Pháp luật chỉ quy định về sở hữu chéo giữa các công ty mẹ - con với nhau còn trên thực tế mỗi quan hệ sở hữu vốn góp, cổ phần được thực hiện bởi những cá nhân có quan hệ huyết thống như cha, mẹ, vợ, chồng, con,... hoặc những cá nhân là các nhà đầu tư gắn kết lại với nhau để thâu tóm một/ một số doanh nghiệp.

Để tận dung chiến lược sở hữu chéo, sỡ hữu chi phối một/ một số doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp nên thuê những đội ngũ chuyên gia am hiểu hiểu pháp luật để tư vấn và lên chiến lược một cách hợp pháp và phù hợp với chiến lược, lợi ích kinh doanh của mình.

Sau đây indeedLaw.org xin giới thiệu đến các bạn một số quy định của pháp luật doanh nghiệp về sở hữu chéo:

Luật Doanh nghiệp 2014 

Điều 189. Công ty mẹ, công ty con
1. Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó;
b) Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;
c) Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó.
2. Công ty con không được đầu tư góp vốn, mua cổ phần của công ty mẹ. Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau.
3. Các công ty con có cùng một công ty mẹ là doanh nghiệp có sở hữu ít nhất 65% vốn nhà nước không được cùng nhau góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật này.
4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Điều 212. Hiệu lực thi hành
1. c) Các công ty không có cổ phần hoặc phần vốn góp do Nhà nước nắm giữ thực hiện góp vốn, mua cổ phần trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 không phải thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 189 của Luật này nhưng không được tăng tỷ lệ sở hữu chéo.

Nghị định 96/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật doanh nghiệp 2014

Điều 16. Hạn chế sở hữu chéo giữa các công ty
1. Góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều 189 Luật Doanh nghiệp bao gồm góp vốn, mua cổ phần để thành lập doanh nghiệp mới, mua phần vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp đã thành lập.
2. Sở hữu chéo là việc đồng thời hai doanh nghiệp có sở hữu phần vốn góp, cổ phần của nhau.
3. Cùng nhau góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều 189 Luật Doanh nghiệp là trường hợp tổng số cổ phần, phần vốn góp của các công ty này sở hữu bằng hoặc lớn hơn 51% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty có liên quan.
4. Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị của các công ty có liên quan chịu trách nhiệm bảo đảm tuân thủ đúng quy định tại Điều 189 Luật Doanh nghiệp khi quyết định góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của công ty khác. Trong trường hợp này, Chủ tịch công ty hoặc thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị của công ty có liên quan cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra cho công ty khi vi phạm các quy định tại Điều này.
5. Cơ quan đăng ký kinh doanh từ chối đăng ký thay đổi thành viên, cổ đông công ty nếu trong quá trình thụ lý hồ sơ phát hiện việc góp vốn, mua cổ phần thành lập doanh nghiệp hoặc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp liên quan vi phạm quy định tại các Khoản 2 và 3 Điều 189 Luật Doanh nghiệp.
6. Các công ty không có cổ phần, phần vốn góp nhà nước nắm giữ đã thực hiện góp vốn, mua cổ phần trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 có quyền mua bán, chuyển nhượng, tăng, giảm phần vốn góp, số cổ phần nhưng không được làm tăng tỷ lệ sở hữu chéo hiện có.

Bản quyền bài viết của indeedLaw.org
Share on Google Plus

indeedLaw.org

"Cung cấp đầy đủ và chi tiết những kiến thức pháp luật cho mọi người!"